Hành Hương Việt Nam 2010

Nguyễn Hùng Cường

 

(Lời giới thiệu: Bài viết dưới đây trích đoạn từ thiên phóng sự dài về chuyến đi Việt Nam trong năm 2010 của tác giả, để chia sẻ đến bạn đọc khía cạnh thuần túy thiện nguyện trong công tác của anh.)

 

Chiếc Boeing 747 nhung nhúc khách du lịch Á châu đang lượn ṿng thấp nhất trên không phận Sàig̣n.

Đồng hồ chỉ 10g20 sáng. Ánh nắng chói chang từ bên ngoài đập vào các ô vuông cửa sổ, nhưng nhờ độ mát trong ḷng phi cơ nên không ai bận tâm với cái nắng tháng ba của Sàig̣n sẽ thiêu đốt họ trong vài phút nữa. Từ độ cao khoảng 100 mét, tôi đă nh́n thấy những mái nhà ṿm xi măng loang lổ để lại từ thời chiến tranh hiện ra trơ trẽn. Những dăy nhà tôn rỉ sét dọc theo phi đạo cũng tố giác một thực trạng nghèo nàn nhếch nhác không được chính quyền quan tâm.  Đây là lần thứ hai tôi thấy lại quê hương ḿnh. Khi đang im lặng nối đuôi theo đoàn hành khách tiến ra cửa phi trường Tân Sơn Nhất, tôi không thể nào quên được một vết hằn bực bội trong ḷng khi về thăm quê lần trước. Cách đây mười năm, chính tại pḥng hành lư của phi trường này tôi bị hai nhân viên hải quan Việt Nam hạch sách đủ điều chỉ v́ tôi không ghi đúng số tiền mang vào Việt Nam như qui định. Tuy đang di chuyển trong hệ thống mái ṿm có máy lạnh (ở Việt Nam gọi là máy mát) dẫn ra khu vực thủ tục hải quan, tôi đă nhận ra ngay khí hậu ẩm ướt trên mặt trên tay ḿnh. Nhưng cùng lúc tôi ghi nhận được những đổi mới so với chuyến trước. Đổi mới thứ nhất là khu kiểm soát giấy tờ di trú bây giờ có đủ lối cho du khách xếp hàng tŕnh giấy. Vợ chồng tôi nhanh chân chọn ngay một lối ngắn nhất, đứng chung trong đám hành khách tây tàu đủ loại. Trong khi đợi đến phiên ḿnh, tôi cố tỏ ra điềm tĩnh nhưng quả tim cứ đánh lô tô làm sao đó. Có lẽ, một phần v́ tôi như con chim bị đạn nhớ lại chuyện trục trặc mười năm trước; mặt khác tuy không mang theo hàng ǵ quốc cấm nhưng cứ lo lắng không biết vài giây nữa mọi sự có được ‘hanh thông’ hay không khi tŕnh giấy tờ cho anh chàng nhân viên hải quan ngồi đằng sau lớp kiếng kia. Cuối cùng mọi việc cũng xong xuôi trót lọt, và tôi chẳng phải chi một đồng nào cho anh ta. Tôi cho đây là đổi mới thứ hai, v́ trong chuyến trước tôi ‘chẳng đặng đừng’ phải kẹp một tờ $5 trong mỗi sổ thông hành như bạn bè khuyên. Và lần đó tôi tuy không nh́n thấy chi tiết nhưng biết chắc nhân viên hải quan đă thành thạo thả rơi tờ bạc xuống cái thùng bên dưới. Qua khỏi ải giấy tờ, vợ chồng tôi thở phào nhẹ nhơm, vội vă xuống tầng dưới để nhận hành lư từ máy quay chuyển đến. Tại đây, tôi thấy có sự đổi mới thứ ba. Lần trước tôi được người nhà ‘mách nước’ nên chi chút đỉnh cho một nhân viên có ‘nhiệm vụ’ lảng văng nơi khu nhận hành lư để giúp kiếm cho tôi một chiếc xe đẩy, hoặc cũng có thể đích thân bốc vác hành lư và đẩy ra cửa cho tôi. Chuyến trước tôi làm đúng như vậy, nhưng lần này tôi không tiếp tay làm bẩn hệ thống hải quan của nhà nước Việt Nam nữa. Tuy nhiên tôi vẫn thấy có một nhân viên lảng văng quanh đấy, đi theo sát tôi và lịch sự hỏi, “Ông cần giúp không?”

Mới ra khỏi pḥng hành lư chưa kịp gặp gia đ́nh, lưng tôi đă thấm từng gịng mồ hôi chảy dọc theo xương sống. Tháng Ba, Sàig̣n quê ḿnh nắng đổ lửa như người nhà đă tường tŕnh thời tiết qua điện thoại vài hôm trước. Từ giữa rừng người đón thân nhân đang xô lấn nhau như đi biểu t́nh, tôi nh́n ra trước mặt thấy phố phường hoàn toàn thay da đổi thịt, nhất là khu vực trước cổng phi trường. Trong lúc đó cả một đại dương âm thanh đủ loại ầm ầm tràn vào tai tôi khiến nó cứ lùng bùng măi, nói chuyện mà cứ phải hét lên người nhà mới nghe được. Tôi bỗng thấy xót xa cho dân ḿnh quá. Xót xa v́ hơn 8 triệu người dân Sàig̣n của tôi phải nhẫn nhục chấp nhận loại âm thanh hỗn tạp này hành hạ mỗi ngày. Vẫn biết rằng tai chúng ta sẽ dần dần thích nghi với tiếng động, nhưng đă 35 năm rồi mà dân tôi vẫn phải sống với thứ âm thanh chết người như thế này sao. Vợ chồng tôi được các em đùn ngay vào chiếc xe Mercedes 7 chỗ ngồi thuê sẵn để tránh cái nóng hừng hực, nhưng xe nổ máy khá lâu mà máy lạnh không chịu làm việc. Hệ thống máy lạnh trở chứng đúng ngay khi cần đến nó. Người tài xế đập đập mấy cái vào nút điều chỉnh nhưng nó cứ làm reo. Tôi thầm nghĩ chẳng lẽ máy lạnh tại Việt Nam cũng đ̣i uống thêm nước mát. Chẳng thể làm ǵ hơn nên bác tài phải mở cửa đón gió… nóng tràn vào.

IMG_5458

Tổ kiến khổng lồ trên đường phố Sàg̣n hôm nay

Độ ẩm và cái nắng nhiệt đới ngột ngạt, cộng với màn khói mù mịt từ động cơ của hơn 5 triệu chiếc xe gắn máy thải ra bao trùm không gian, sẵn sàng hành hạ buồng phổi của bất cứ du khách nào từ phương xa đến. Chung quanh tôi hàng trăm, hay nói đúng hơn hàng ngàn xe động cơ hai bánh đủ loại đang lúc nhúc t́m cách di chuyển ngang dọc ngay trước mũi xe chúng tôi. Nh́n kiếng chiếu hậu, tôi cũng phát hoảng v́ thấy ḿnh bị lọt vào giữa ṿng vây của một rừng xe di động. Phải gọi là một tổ kiến khổng lồ bị chọc phá chạy tứ tán không bao giờ dứt mới đúng. Năm 2000 khi về quê nhà lần đầu tiên, tôi đă choáng ngợp khi nh́n thấy thành phố Sàig̣n có lắm đổi thay. Lần đó, tôi không thể nào quên được cảm giác hồi hộp nh́n cảnh chiếc xe chở chúng tôi phải mạo hiểm băng qua một rừng xe vô trật tự.  Lần này về lại, tôi có cảm tưởng dân số và cả loại xe động cơ hai bánh đă được tăng lên với cấp số nhân đến chóng mặt. Chẳng thế mà đứa cháu của tôi phải ví von rằng, “Đến năm 2020, người dân Sàig̣n khi đi bộ trên đường phố phải nghiêng vai lại cho gọn gàng mà di chuyển, c̣n xe hai bánh phải cắt ngắn ghi-đong lại để khỏi va vào nhau.” Tôi nghĩ câu ví von này không quá đáng.  Giờ phút này, tôi thực sự đang đứng trên đất mẹ nhưng sao thấy xa lạ quá. Chiếc xe “van” chở chúng tôi không chịu thua đàn xe con hai bánh nên cũng mạo hiểm bám đuôi hàng ngàn ‘con kiến vỡ tổ’ để nhích lên. Liếc thấy bà nhà tôi mặt xanh như tàu lá v́ sợ tai nạn nên tôi khuyên người tài xế cứ thong thả. Nhưng bác tài c̣n quá trẻ tỏ ra quyết chiến quyết thắng, đáp ngay với giọng Bắc đặc sệt, “Phải dành đường với chúng ‘ló’ chứ bác, chẳng nhẽ ‘nấy’ tiền rồi mà không đưa được hai bác ra Nha Trang cho kịp tối ‘lay’ sao?”  Khi bác tài đang đạp thắng đợi tại một ngă tư kẹt xe, chúng tôi bỗng nhận ra xe ḿnh bị đụng thật mạnh từ phía sau. Biết đă bị xe sau tông vào, anh tài xế phụ nhanh như sóc mở cửa nhảy xuống và bắt đầu văng tục thật to với người tài xế của xe sau. Hỏi ra th́ biết chiếc xe sau là một chiếc xe buưt. Giữa trưa nắng chảy mỡ, tôi nghe rất rơ tiếng quát tháo qua lại giữa hai người phía sau xe. Nào là, “Đụng ‘chúc’ xíu, có ǵ đâu mà làm dữ ‘dzậy’ cha!”, rồi tiếng bên kia căng hơn, “Dzậy mà ‘hổng’ hư xao, bửng móp hết chọi mà ‘hổng’ hư  xao?”. Tiếng căi vă thưa thớt hơn khi làn sóng xe hai bánh bắt đầu phun khói di chuyển tiếp. Hai xe tông nhau vẫn đậu tại chỗ. Tiếng chửi nhau c̣n kéo dài thêm vài giây nữa cho đến khi anh tài xế phụ mở cửa nhảy lên xe với một mớ tiền nắm trong tay. Anh này người Nam, vừa phân bua vừa giải thích như chỉ cho chúng tôi một mánh mới, “Đă quá, đă quá! Chỉ chửi thằng chả ‘dzài’ câu mà chộp được hai ‘chăm’ (ngàn) (khoảng hơn 10 đôla). Đă quá ‘chời’!

 

IMG_5508

Ra đường phải đội mũ an toàn, nhưng không

phải v́ … an toàn cho bằng v́ sợ bị cảnh sát phạt… tiền

 

Trên suốt lộ tŕnh ra Trung, mặt đường nhiều đoạn c̣n xấu, chiếc xe chỉ chạy được 45 cây số giờ nên khoảng 9 giờ tối chúng tôi mới về đến Cam Ranh.

 

Trại Phong Qui Ḥa, miền đất của an b́nh và nhân phẩm

Tạ ơn Chúa, chuyến đi Việt Nam của vợ chồng tôi từ giữa tháng 3 đến cuối tháng 4/2010 phần nào mang tâm t́nh một cuộc hành hương. Lư do, hồng ân to lớn nhất là Chúa cho chúng tôi cơ hội sống giữa cộng đoàn anh chị em bệnh nhân trại phong Qui Ḥa trong suốt tuần thánh, và sau đó tuần tự được tiếp xúc với các sinh hoạt tông đồ tại nhiều nơi khác nữa.

Theo dự trù, trên đường từ Đà Nẵng vào, chúng tôi chỉ muốn dừng chân nghỉ ngơi vài hôm tại Qui Nhơn, tiện thể ghé lại thăm căn nhà của ḿnh bị “họ” chiếm hữu trên đường Nguyễn Huệ, sau đó vào thăm trại phong Qui Ḥa. Tôi dự trù chỉ mất nhiều lắm là một buổi để thăm trại và gặp lại bà d́ là nữ tu đang nghỉ hưu ở đó là xong. Nhưng tôi cảm nghiệm được Chúa có một chương tŕnh khác cho chúng tôi trong dịp đến Qui Nhơn lần này và Chúa muốn chúng tôi đến với trại phong trong một tâm t́nh sâu đậm và ư nghĩa hơn. Số là khi ghé lại Qui Nhơn ngày 30 tháng 3, chúng tôi chạm mặt với việc chính quyền địa phương đang ráo riết sửa soạn để vài hôm sau đó mừng một biến cố mà họ gọi là ngày kỷ niệm “35 năm giải phóng Qui Nhơn”. V́ cờ đỏ tung bay khắp nơi trong thành phố Qui Nhơn và họ kiểm soát quá chặt chẽ tại các lối xe cộ ra vào, chúng tôi nghĩ tốt hơn nên nghỉ ngơi trong khách sạn thay v́ di chuyển đó đây trong lúc này. Và trong khi đang lấn cấn chưa biết phải giải quyết sao cho tiện th́ chúng tôi nghĩ ngay đến trại phong Qui Ḥa, v́ đằng nào chúng tôi cũng sẽ ghé thăm trại.  Trại phong Qui Ḥa cách thành phố Qui Nhơn 7 cây số về phía Nam là một nơi chữa trị bệnh phong được nhiều người biết đến nhất, cả trước và sau 1975. Thực ra, chúng tôi không xa lạ ǵ với trại phong này v́ vợ chồng tôi đă là khách quen của trại từ nhiều năm trước 1975 khi đến thăm d́ ruột của nhà tôi là nữ tu Maria Mađalêna Trương Thị Nghiêm đă phục vụ bệnh nhân tại đây từ hơn 60 năm qua. Nhưng tâm t́nh và mục đích của chúng tôi khi đến với trại phong trước kia hầu như chỉ để du ngoạn cuối tuần hơn là thăm viếng bệnh nhân, v́ khu vực trại phong nằm ngay trên một bờ biển sạch và đẹp, lư tưởng cho du khách đến nghỉ ngơi sau một tuần làm việc. Có thể nhiều người đă thăm viếng trại phong Qui Ḥa. Cũng không ít người có thể đă nghe biết đến địa danh này qua những thi phẩm tuyệt tác của nhà thơ Hàn Mặc Tử, c̣n được gọi là “Thi sĩ người cùi”. Lần này nhân chuyến đi Việt Nam và được sinh hoạt với các bệnh nhân cùng các xơ phụ trách, tôi xin cống hiến bạn đọc vài điều góp nhặt được về trại phong Qui Ḥa. Hy vọng những ghi nhận sau đây sẽ giúp bạn đọc biết thêm về lai lịch của một trại phong Việt Nam được nhiều người biết đến và đă đưa địa danh Qui Ḥa vào văn học Việt Nam qua tên tuổi của thi sĩ họ Hàn.

Chuông cửa tu viện Ḍng Phanxicô Thừa Sai Đức Mẹ chỉ reo vài lần, một phụ nữ mặc thường phục có dáng cao cao, hiền lành, trạc tuổi lục tuần liền xuất hiện và nghiêng đầu niềm nở mời chúng tôi vào pḥng khách. Không ai giới thiệu, tôi vẫn biết đó là một nữ tu nhờ vào cung cách khiêm tốn của bà. Tôi nhớ hao hao đă thấy nữ tu này trong một tấm h́nh tôi nhận được năm ngoái, nhưng chưa bao giờ gặp mặt. “Đây chắc là Mẹ Bề Trên thôi”, tôi nghĩ nhanh trong đầu. Tôi đánh bạo hỏi ngay, “Thưa có phải là Mẹ Bề Trên Anna Phùng Thị Cát không ạ?” Mẹ gật đầu mĩm cười nh́n chúng tôi và hỏi lại, “C̣n đây là anh chị Cường phải không nào?” Giọng nói của Mẹ có thoáng vui mừng như khi gặp được người thân. Thấy vậy, tôi an tâm tin rằng đây chính là Mẹ Bề Trên đă gửi thiệp Giáng sinh cho chúng tôi. Mẹ kéo ghế chỉ tay mời chúng tôi ngồi và đi lấy nước đăi khách.  Sau vài phút Mẹ trở lại ngồi với chúng tôi. Qua lời thăm hỏi chân t́nh của Mẹ, tự nhiên tôi thấy quí mến và ao ước tá túc vài hôm để có thời gian gặp gỡ và sinh hoạt với các bệnh nhân, sợ sau này không có dịp. Chuyện tṛ xong, Mẹ đưa chúng tôi vào pḥng văng lai dành cho khách, sau đó Mẹ biến mất sau cánh cửa gỗ ngăn cách pḥng tiếp khách với khu vực riêng của tu viện. Phải đợi đến xế chiều ngày hôm sau, sau giờ kinh nhật tụng của các nữ tu, chúng tôi mới được hầu chuyện với Mẹ nhiều hơn. Mục đích của tôi là muốn hỏi Mẹ về trại phong Qui Ḥa là một nơi chốn tuy cá nhân tôi đă đến nhiều lần nhưng sự hiểu biết của tôi về lai lịch của trại lại quá sơ sài. Tại pḥng khách tràn ngập gió biển thổi vào, Mẹ bắt đầu kể chuyện trại phong Qui Ḥa cho vợ chồng tôi là những ‘khách cưng’ của Mẹ. Tôi dám nhận ḿnh là ‘khách cưng’ của Mẹ nhờ vào t́nh cảm Mẹ dành cho chúng tôi ngay từ hôm qua. Tôi cũng đoán ḿnh được Mẹ ưu ái là nhờ vào mối giây liên hệ chị em trong một tu hội giữa Mẹ với d́ ruột của nhà tôi là một nữ tu cao niên. Mẹ Bề Trên chiều khách nên đă hy sinh gần hai tiếng đồng hồ trong một ngày bận rộn của Mẹ, hầu có thể kể rơ ngọn ngành lịch sử của trại phong cho chúng tôi nghe. Câu chuyện dĩ nhiên là dài, v́ phải xuyên suốt một quăng thời gian và không gian mấy chục năm, từ những thập niên 1930-1940. Tôi nghĩ, có thế tôi mới tầm nguyên đầy đủ về nguồn gốc của trại phong và sự hiện diện của Ḍng Phanxicô Thừa Sai Đức Mẹ. Có quá nhiều điều kỳ thú và xúc động mà tôi ghi nhận được khi Mẹ Bề Trên nhắc lại lịch sử thành lập trại, nhưng chỉ xin tóm lược lại để hầu chuyện bạn đọc như sau.

 

Theo hồ sơ của bộ y tế Việt Nam Cộng Ḥa c̣n để lại th́ trong những năm 1929-1930 tỉnh B́nh Định có 360 người mắc bệnh phong. Bác sĩ Le Moine, giám đốc bệnh viện thành phố Qui Nhơn lúc đó rất quan tâm đến người bệnh phong, nhất là về số phận và cuộc sống lây lất của họ. Ông có đề án lập ra một nông trại hay một làng cho người bệnh phong. Và trong khoảng thời gian đó, một vài nơi khác cũng lập trại phong, nhưng mục đích để bắt nhốt các bệnh nhân phong v́ sợ bệnh phong lây lan ra khắp nơi trong xă hội; từ đó người ta chống bệnh phong rồi quay ra kỳ thị và chống luôn người mắc bệnh. Trái lại,  bác sĩ Le Moine khi lập trại  muốn nhắm đến việc duy tŕ tính nhân bản, nghĩa là vừa tạo cho bệnh nhân phong một nơi chữa trị và sinh sống vừa giúp họ đừng nghĩ đến việc họ bị xă hội bỏ rơi và xa lánh. Sau gần 2 năm gơ cửa nhiều cơ quan để xin hỗ trợ và giúp đỡ nhưng không thành công, người bác sĩ giàu ḷng nhân ái gần như thất vọng, nhưng sau cùng đă gặp được Đức Cha Grangeon (tên Việt là Mẫn) lúc đó đang cai quản giáo phận Qui Nhơn. Sau khi nghe bác sĩ Le Moine tŕnh bày niềm ao ước và dự án xây làng phong, vị Giám mục khả kính nói, “Thưa bác sĩ, toàn giáo phận xin sẵn sàng hỗ trợ.” Và chính Đức Cha Grangeon đề nghị địa điểm Qui Ḥa.

Địa danh và địa điểm Qui Ḥa có xuất xứ như sau.  Từ xa xưa, dân gian vẫn gọi Qui Ḥa là Xóm Cát, v́ có một họ đạo đă h́nh thành ở Qui Ḥa nhiều năm, lại có một nền nhà thờ cổ được t́m thấy trên sườn núi gần đấy. Qui Ḥa nằm về mạn Nam cách xa thành phố Qui Nhơn 7 cây số. Có một con đường nhỏ nối liền Qui Ḥa với thành phố Qui Nhơn dẫn qua một con đèo không cao lắm, ngày nay trên đèo c̣n thấy di tích thành lũy có lẽ của quân binh Tây Sơn. Qui Ḥa nằm lẻ loi giữa một cánh đồng rộng 60 hecta, đất tốt. Ba phía có núi h́nh ṿng cung bao bọc, với phía Đông có vùng biển gọi là vũng Làng Mai, trong khi phía Nam có con sông nhỏ uốn khúc quanh co chảy ra biển, tạo nên một cảnh trí biển núi tuyệt vời. Về phong thổ, Qui Ḥa hội đủ mọi yếu tố cần thiết, có nước, có gió, có núi, có biển. Ngoài đồng bằng làm lúa, c̣n có cây trái sum suê, nào dừa, cau, mít. Về địa h́nh, Đức Cha Grangeon và bác sĩ Le Moine nhận xét v́ dân cư c̣n thưa thớt nên Qui Ḥa thật thích hợp để lập ra một trại phong.

Cha Maheu là vị linh mục tiên phong đến Qui Ḥa và bắt đầu xây dựng cơ sở. Linh mục Paul André Maheu sinh ngày 24/1/1869. Ngài thuộc Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris chịu chức linh mục năm 1895, sau đó nhận bài sai đến phục vụ truyền giáo tại giáo phận Qui Nhơn, lấy tên Việt Nam là Mỹ. Linh mục Maheu  được chỉ  định hợp tác và gắn bó với bác sĩ Le Moine để tiến hành việc lập trại phong Qui Ḥa. Kể cả chính quyền sở tại cũng khoán trắng công tŕnh lập trại cho hai vị. Thế là từ hai bàn tay trắng, cha Maheu đến gơ cửa từ tâm các nhà giàu, các chủ đồn điền, các nhà hảo tâm, các công chức ở miền Nam. Từ tháng 5/1929, khi xin được ít tiền cha Maheu bắt đầu cất lên mấy căn nhà tranh vách đất vừa dùng để làm nơi phát chẩn thuốc men, vừa làm nhà thờ và nhà ở cho bệnh nhân. Khởi đầu, đếm được 52 người mắc bệnh đă đến xin bác sĩ Le Moine chữa trị. Dần dà, bệnh nhân các nơi xa cũng t́m đến xin chữa trị, nên chính quyền thời đó đă chọn trại phong Qui Ḥa làm nơi dành riêng cho bệnh nhân phong cùi trong tỉnh B́nh Định. Cha Maheu và bác sĩ Le Moine đă trở thành những người bạn chân t́nh của bệnh nhân phong cùi. Không rơ về sau bác sĩ Le Moine về Pháp hay đổi đi đâu. Riêng cha Maheu, vị thừa sai lăo thành giàu ḷng bác ái, đă không được nh́n thấy giai đoạn thành tựu sau đó của trại phong. V́ lo lắng nhiều việc, nhất là quan tâm đến việc t́m tài chánh cho trại, cha đă lâm bệnh nặng. Ngài về Pháp rồi mấy tháng sau đă qua đời tại quê hương ḿnh ngày 27/2/1931, thọ 62 tuổi. Khi rời trại phong Qui Ḥa, cha Maheu đă để lại cho bệnh nhân một gia sản và cơ sở, gồm có: một nhà thờ tạm, một nhà tuyên úy, một nhà cho nữ tu ở tạm, một bệnh xá chẩn bệnh. Tất cả đều xây gạch lợp ngói, nằm sát ngay bờ biển lộng gió. Trại bệnh ở phía trong, giữa trại có một khu chợ. Các con đường đều bắt đầu từ chợ, chia trại ra thành từng khu. Bệnh nhân và gia đ́nh ở từng căn hộ riêng. Một số nhà cũng được cất theo sở thích của bệnh nhân, hoặc nhà tre, nhà gỗ, vách đất, vách ván, lợp tranh.

 Sau khi cha Maheu ra đi, trại tiếp tục đón nhận các vị thừa si khác, là cha Alexandre (Trí) và cha Nicolas (Cận). Sau đó, một số các nữ tu Mến Thánh Giá G̣ Thị (Qui Nhơn) cũng được gửi tới để cộng tác với các cha thừa sai. Nhà cửa, bệnh xá, nhà nguyện… tiếp tục được xây cất hoặc sửa sang lại.

Các Nữ tu Phanxicô Thừa Sai Đức Mẹ lần lượt kế tục sự nghiệp và phát triển. Năm 1930, Đức Cha Auguste-Marie Tardieu, tân Giám mục giáo phận Qui Nhơn, đi Roma. Ngài đến gặp Mẹ Marie de Saint Michel là Bề trên Tổng quyền của Ḍng Phanxicô Thừa Sai Đức Mẹ, để xin Mẹ nhận đảm trách trại phong Qui Ḥa mới thành lập. Ḍng này, theo tinh thần thánh tổ phụ Phanxicô, chuyên sống phục vụ những người nghèo khổ và bệnh tật bất hạnh. Ḍng lại có nhiều nữ tu được huấn luyện chuyên môn và lúc đó đang đảm trách 9 trại phong cùi trên khắp thế giới.

Ngày 23/9/1932, năm nữ tu Phanxicô Thừa Sai Đức Mẹ thuộc Tỉnh Ḍng Thánh Tâm Paris xuống tàu ‘Le Général Mesinger’ từ Marseille đi Sàig̣n. Từ Sàig̣n các nữ tu đáp xe lửa ra Trung, đến Qui Nhơn ngày 24/10/1932. Một chi tiết kỳ thú c̣n ghi lại cho biết rằng khi các nữ tu này từ Qui Nhơn đi xe đến chân đèo Qui Ḥa liền được mời lên ngồi kiệu do 4 thanh niên lực lưỡng khiêng trên vai. Đoàn người đi như một đám rước, có cờ quạt chiêng trống dẫn đầu. Đến cổng trại, các nữ tu được những bệnh nhân với những khuôn mặt bị biến dạng v́ bệnh phong reo ḥ đón tiếp. Hai bệnh nhân đọc bài diễn văn chào mừng, một bài bằng tiếng Việt một bài bằng tiếng Pháp. Một chi tiết khác cũng ghi lại rằng các nữ tu đă bị đánh động và khóc thành tiếng khi nghe xong bài diễn văn trong đó có câu bệnh nhân nói “Chúng tôi là những kẻ thân tàn ma dại.” Bắt đầu từ đây, ngày 25/10/1932, các nữ tu Phanxicô đă là những người đầy tớ đến để băng bó những vết thương nơi thân thể Chúa Kitô hiện thân qua những bệnh nhân phong cùi. Cũng từ đó đến nay, khu điều trị phong Qui Ḥa liên tục có những bước phát triển, thay đổi danh xưng, thay đổi ‘chủ nhân’, hoặc phải cầm chừng, qua từng thời kỳ trôi nổi.

Từ tháng 10/1932 đến tháng 11/1945 là thời gian các nữ tu bắt tay vào việc. Trước tiên là đặt tên thánh cho trại, và trại được gọi là “Trại phong Thánh Phanxicô Qui Ḥa.” C̣n danh xưng của các nữ tu gọi là “Cộng Đoàn Thánh Phanxicô.” Công việc chính hằng ngày của các chị là thăm viếng, săn sóc, chữa trị bệnh nhân phong cùi cũng như các bệnh thông thường. Trung b́nh mỗi ngày băng bó cho khoảng 160 đến 180 ca bệnh. Ngoài ra các chị c̣n chăm sóc, hướng dẫn cho người khuyết tật câm và điếc. Để phát triển cơ sở vật chất, các nữ tu cũng khai quang thêm mặt bằng để trồng trọt và xây thêm nhà cho bệnh nhân, tuy chỉ là nhà tranh vách đất. Cũng đă có lần thiên tai xảy đến, như cơn sóng thần ngày 1/11/1933, đă tàn phá nhiều công lao gầy dựng của bao nhiêu người từ thời cha Maheu. Nhưng ḷng bác ái và nhiệt tâm của các nữ tu lại tiếp tục giúp cho trại không những gầy dựng lại mà cón phát triển thêm hơn. Sau 1933, đă có thêm 500 căn nhà được xây lên cho bệnh nhân. Đến năm 1935, trại phong Qui Ḥa đón nhận thêm 3 nữ tu nữa, nâng tổng số nữ tu lên 8 người để phục vụ và chăm sóc cho 1,637 bệnh nhân đến từ Thanh Hóa, Nghệ An, Sàig̣n, Gia Định, Biên Ḥa, B́nh Dương, Mỹ Tho, Cần Thơ, Sa Đéc, Bến Tre, G̣ Công, Tây Ninh, Châu Đốc, An Xuyên, Ba Xuyên, Bạc Liêu. Tóm lại, từ khi thành lập vào tháng 5/1929 cho đến cuối năm 1940, trại phong Qui Ḥa đă tiếp nhận và chữa trị cho 5,355 bệnh nhân nặng nhẹ, họ thuộc đủ thành phần trong xă hội và đến từ nhiều địa phương khác nhau.

Trong chiến tranh thế giới II, quân đội Nhật chiếm đóng Việt Nam. Bao nhiêu biến cố tang thương đă dồn dập xảy ra trên đất nước. Trại Qui Ḥa đă phải sống trong hoàn cảnh thật khó khăn, về tinh thần cũng như vật chất. Cho đến ngày 21/11/1945, các nữ tu Phanxicô người Pháp bị buộc phải rời Qui Ḥa về Pháp. Lúc này số bệnh nhân có đến 660 người.

Từ tháng 11/1945 đến tháng 7/1955, đất nước đi vào cuộc chiến tranh chống Pháp. Qui Ḥa nằm trên lănh thổ tỉnh B́nh Định, thuộc Liên khu 5. Gần 10 năm chiến tranh liên tục, Qui Ḥa sống lây lất cầm chừng. Thời gian này vẫn có một số các cha Việt Nam trong giáo phận Qui Nhơn lần lượt đến điều hành trại phong Qui Ḥa, và các nữ tu Ḍng Mến Thánh Giá G̣ Thị cũng đến giúp. Trong thời điểm khó khăn này, Ḍng nữ Phanxicô có được 4 nữ tập sinh rất trẻ đến phục vụ, chủ yếu là phục vụ cho thiếu nhi và trẻ mồ côi.

Từ tháng 7/1955 đến tháng 6/1976. Ngày 6/7/1955, sau hiệp định Genève, có 5 nữ tu được trở lại Qui Ḥa, gồm 2 nữ tu người Pháp và 3 nữ tu Việt Nam. Số bệnh nhân lúc này chỉ c̣n 180 người, và nhà cửa th́ xiêu vẹo đổ nát. Nhưng trong 20 năm sau đó, nhờ thoát khỏi chiến tranh, trại phong Qui Ḥa lại phát triển khởi sắc hơn trước với một cơ sở vật chất khá qui mô: thêm nhà gạch lợp ngói, nhà thờ, tu viện, nhà khách, hai khu vực chữa trị riêng biệt cho nam và nữ. Cơ sở y tế có thêm pḥng nha khoa, pḥng xét nghiệm. Đặc biệt ngày 25/4/1969 trại khánh thành trung tâm chỉnh h́nh nhờ bác sĩ Gingras và nhóm chuyên viên vật lư trị liệu Canada trợ giúp. Các nữ tu Phanxicô cũng thuê thêm chuyên viên từ bệnh viện Chợ Quán ra Qui Ḥa làm chân giả cho bệnh nhân; kết quả đă có khoảng 50 bệnh nhân được ráp chân giả, thậm chí c̣n đi được xe đạp. Song song với công tác y tế, trại c̣n tu bổ lại các đường đi từ nhà này qua nhà khác được khang trang hơn, tạo cho trại phong có bộ mặt sáng sủa và vui tươi hơn trước. Về cơ sở ngoại vi của trại, có một xóm gồm 250 ngôi nhà mới được xây cất lên cho các bệnh nhân và gia đ́nh họ. Để cung ứng cho nhu cầu đời sống bệnh nhân, trại tổ chức các khu tiểu công nghệ do các bệnh nhân tự điều hành, như nghề mộc, rèn, ngói, làm granitô, thợ dệt vải, dệt chiếu, đan thêu. Mọi sản phẩm làm ra nhằm cung ứng cho nhu cầu trong phạm vi làng phong mà thôi. Ngoài ra, để nâng cao đời sống tinh thần cho bệnh nhân, các nữ tu c̣n tổ chức và khuyến khích các sinh hoạt văn nghệ. Chương tŕnh này đă lôi cuốn được nhiều thành phần bệnh nhân trong làng tích cực tham gia, nào là văn sĩ, ca sĩ, nhà báo, sinh viên, học sinh. Lại có cả sân tập thể dục, bóng chuyền, bóng rổ, vườn trẻ, vườn thiếu nhi, trường học mẫu giáo, trường cấp 1, cấp 2. Thầy cô lại cũng chính là những bệnh nhân trong làng, và kết quả học tập của các em cũng rất khả quan với tỉ lệ 11/13 em thi đậu cấp Tiểu học. Trường Phổ thông Qui Ḥa cũng đă được Bộ Giáo dục công nhận. Theo đà phát triển này, các nữ tu cũng đă cất được một nhà dưỡng lăo cho bệnh nhân già cả lành bệnh ở khu vực Ghềnh Ráng.

Vài nét vắn gọn trên đây cho thấy ḷng kiên tŕ và nỗ lực của các nữ tu Phanxicô đă mang lại kết quả lớn lao như thế nào cho các bệnh nhân phong Qui Ḥa. Tính đến cuối năm 1974, số bệnh nhân là 5,422, và số nữ tu cả Pháp và Việt là 14 vị. C̣n nếu tính từ năm 1932 là thời gian khởi đầu cho đến năm 1974 th́ tổng số đă có 47 nữ tu dấn thân phục vụ tại trại phong Qui Ḥa.

Từ tháng 6/1976 đến hôm nay. Sau ngày thống nhất đất nước, tất cả các linh mục và tu sĩ ngoại quốc, trong đó có các nữ tu Phanxicô Thừa Sai Đức Mẹ người Pháp ở Qui Ḥa, đều bị nhà cầm quyền Việt Nam buộc phải rời khỏi Việt Nam. Tiếp đó, ngày 5/6/1976, Tỉnh Ḍng Phanxicô Thừa Sai Đức Mẹ đă buộc phải chuyển giao bệnh viện Qui Ḥa cho nhà nước Việt Nam. Lễ bàn giao diễn ra ngay tại hội trường của bệnh viện, giữa 5 nữ tu đại diện cho Ḍng và 5 bác sĩ thay mặt cho nhà cầm quyền Việt Nam. Từ sau khi bàn giao, bệnh viện phong Qui Ḥa được đổi tên là Khu Điều trị Phong Qui Ḥa. Nhà nước cho biết họ bằng ḷng giữ lại 20 nữ tu để tiếp tục phục vụ bên cạnh các bác sĩ, nhưng Ḍng chỉ đáp ứng được 17 nữ tu có bằng cấp chuyên môn. Riêng Mẹ Tổng quyền của Nhà Ḍng là Mẹ Marie-Thérèse de Maleissye tuy ở xa xôi vẫn tiếp tục ủng hộ Qui Ḥa, nói về Qui Ḥa, và nói về các nữ tu Phanxicô Thừa Sai Đức Mẹ đang phục vụ tại Qui Ḥa.

 

Nữ Tu Phanxicô, người băng bó vết thương của Chúa

Cảm tạ Chúa đă ban cho chúng tôi hồng ân được sống thật gần với những thương tích nơi châu thân của Ngài suốt tuần thánh. Chính trong những ngày cực trọng của tuần thánh được lưu lại nơi trại phong đă cho tôi ư nghĩa thánh thiêng này. Điều chúng tôi gặt hái được, -- nhờ 6 ngày thực tế tiếp xúc với 120 bệnh nhân trong khu An Dưỡng của trại và được gần kề với các nữ tu qua suốt thời gian một ngày phục vụ bệnh nhân --  đă giúp chúng tôi tự đánh giá được một cách đích thực mức độ của ḿnh trong việc phục vụ Chúa và tha nhân. Chúng tôi dùng trọn ngày Thứ Hai tuần thánh chỉ để bắc nhịp cầu cảm thông với các bệnh nhân. Qua ngày Thứ Ba tuần thánh, đích thân Mẹ Bề Trên Anna Phùng Thị Cát và một xơ nữa dẫn chúng tôi xuống khu vực nhà ở của anh chị em bệnh phong. Vợ chồng tôi cố gắng giữ cho ḿnh trọn vẹn tâm t́nh ‘anh chị em con một nhà’ để dễ dàng hoà đồng với anh chị em bệnh nhân là những người đau khổ mà ḿnh sắp thăm viếng. Chúng tôi cũng không quên bày tỏ một cung cách thật đơn giản, từ lời thăm hỏi cho đến cách ăn mặc, để việc tiếp xúc được thuận tiện hơn. Tuy đă nhiều lần đến Qui Ḥa và có rất nhiều cơ hội tiếp xúc với bệnh nhân trước 1975, nhưng hôm nay tôi thấy ḷng ḿnh xúc động lạ thường như khi mới gặp gỡ họ lần đầu. Có lẽ lần này v́ tôi đến thăm trại trong thời gian mùa chay, mặt khác cũng v́ tôi mang tâm trạng của người con xa xứ đă lâu nay mới về lại. Hai xơ dẫn chúng tôi đến chào thăm các bệnh nhân đang ngồi nghỉ ngơi trước các hàng hiên, hoặc vào tận từng giường bên trong pḥng ở của khu An Dưỡng. Đến đâu cũng vậy, chúng tôi chưa kịp mở lời th́ họ đă đon đả lên tiếng chào đón chúng tôi trước. Tôi tự trách ḿnh sao lại chậm chạp trong cách cư xử, trong khi b́nh thường tôi vẫn làm việc này không đến nỗi tệ. Điều đáng ghi nhận nhất, đó là các bệnh nhân tuy h́nh hài không nguyên vẹn vẫn lộ ra một vẻ thanh thản và vui tươi khi gặp gỡ khách lạ. Có những bệnh nhân lớn tuổi thản nhiên ‘vỗ tay’ chào hai xơ và chúng tôi bằng cách đưa hai cánh tay lên trời trong khi miệng nói to, ‘Chào hai xơ và ông bà ạ!’ Dĩ nhiên tiếng vỗ tay không có âm thanh v́ họ không c̣n bàn tay, nhưng h́nh như chúng tôi nghe được rất rơ âm thanh của t́nh yêu Chúa, của t́nh huynh đệ, phát ra từ trái tim của anh chị em bệnh nhân trước mặt chúng tôi. Tôi tự hỏi ḿnh, “Cái ǵ đă cho họ nụ cười và khuôn mặt yêu đời như thế, trong khi họ vẫn mang trong ḿnh căn bệnh nan y?”. Tôi tưởng v́ họ đang có Chúa hằng ngày trong ḷng qua h́nh ảnh các xơ chăm sóc cho họ. Mẹ Bề Trên cho biết, trong tổng số 488 bệnh nhân hiện nay của trại th́ những anh chị em này vào khoảng 100 người được tập trung lại với nhau tại đây gọi là khu vực An Dưỡng. Tại khu này, họ đang ở trong giai đoạn được pḥng y tế trại quan tâm cách riêng, cả về phần chữa trị và cung cấp ẩm thực. Trong khi đó, số c̣n lại được ở với nhau và sinh hoạt theo h́nh thức gia đ́nh riêng của ḿnh. Qua suốt các ngày Thứ Tư, Thứ Năm, và Thứ Sáu tuần thánh, chúng tôi được tham dự mọi nghi thức phụng vụ cực thánh không sót một buổi  nào giữa một cộng đoàn mà tín hữu là những người đang mang trên thân thể ḿnh những vết đau nhức của Chúa Giêsu trong thế kỷ 21 này. Từ chiều Thứ Tư và Thứ Năm, ba ca đoàn (Thanh niên, Thiếu nhi, Gia trưởng) đă ráo triết tập dượt để hát lễ Phục Sinh. Riêng các nữ tu Phanxicô cũng thấm mệt với bao công tác cần thiết nhằm chuẩn bị tâm hồn và sinh hoạt mùa lễ cho bệnh nhân. Nào là nghi thức lễ vọng Phục Sinh, vẽ h́nh trên trứng Phục Sinh, họp mặt từng thành phần bệnh nhân, chiêu đăi ẩm thực cho ngày Phục Sinh. Tuy bận rộn đến thế, các xơ từ Mẹ Bề Trên nay đă vào tuổi cao niên cho đến các nữ tu c̣n rất trẻ đều tuân giữ rất nghiêm nhặt các giờ kinh nhật tụng theo luật Ḍng. Đặc biệt, cứ vào 3 giờ chiều là giờ Chúa hấp hối trên Thánh Giá, các xơ ngưng hết mọi công tác để tập trung làm giờ tôn vinh Ḷng Chúa Thương Xót tại nhà nguyện của tu viện.

IMG_5058

Nữ tu cao niên Mađalêna Trương Thị Nghiêm,

nguyên Mẹ Bề Trên, đang ở tuổi hưu

 

Tối Thứ Năm tuần thánh, Mẹ Phụ trách gặp riêng chúng tôi. Mẹ nói, “Khoảng 120 anh chị em bệnh nhân ở đây vẫn mong có một bữa ăn mừng lễ Phục Sinh. Không biết anh chị có thể tiếp tay để họ có một bữa ăn khác hơn ngày thường hay không?”  Chúng tôi thưa với Mẹ sẵn sàng làm theo gợi ư của Mẹ, gọi là để tiếp tay với Mẹ một chút hầu san sẻ với anh chị em ḿnh. Gọi là bữa ăn khác hơn ngày thường, v́ theo Mẹ cho biết mỗi ngày mỗi bệnh nhân khu An Dưỡng chỉ được ăn hai bữa mà thôi. Khẩu phần hằng ngày do ban giám đốc trại phong cung cấp, nhưng xem ra họ rất sít sao với cách ‘cân đong đo đếm’ của nhà bếp trại, nghĩa là chỉ có vỏn vẹn một chén cơm và một nửa tô canh lỏng lẻo mà thôi, không cá mắm ǵ kèm theo cả, ngoại trừ những ngày nghỉ lớn của đất nước.

 

IMG_5083

 

Sinh hoạt với các mẹ nội trợ trong trại phong

 

 

IMG_4970

Một niềm vui nhỏ nhoi trong ngày lễ lớn

 

Chúng tôi nhẫm tính, như vậy một khẩu phần chỉ bằng 7 xu của một đồng Mỹ kim. Bởi thế, có nhiều bệnh nhân không nuốt nổi hết chén cơm v́ không c̣n nước canh để nuốt cho trôi xuống cổ.  Tuy nhiên trong một năm, có nhiều dịp các bệnh nhân khu An Dưỡng cũng được bồi dưỡng thêm, thường là thực phẩm khô, nhờ ḷng hảo tâm của khách đến thăm trại qua các xơ.

Tuy chúng tôi biết ḿnh không đủ đức tin để xin Chúa cho ḿnh mang vết thương thay cho các anh chị em bệnh nhân, nhưng nhờ vào một tâm t́nh hiệp thông và một chút khả năng vật chất Chúa ban cho, chúng tôi đă nhận lời theo sự gợi ư của Mẹ Bề Trên. Cụ thể hôm đó Mẹ cần một bữa ăn ‘lễ lạc’ cho 120 bệnh nhân khu An Dưỡng, gọi là để họ mừng lễ Chúa Phục Sinh. Chúng tôi gửi tiền nhờ một xơ giúp cho việc đi chợ, c̣n việc thực hiện món ăn đă có một nữ bệnh nhân giúp đỡ. Khẩu phần gồm có một đùi gà rôti và một ổ bánh ḿ, và được phân phối đến cho bệnh nhân ngay sáng Thử Bảy vọng lễ Phục Sinh theo ư của họ. Có thể bữa ăn hôm đó tuy không được thịnh soạn cho lắm, nhưng đă gói ghém được tấm ḷng chúng tôi muốn mang lại cho anh chị em bệnh nhân một chút hạnh phúc nhỏ bé trong ngày lễ. Phần chúng tôi cũng nhận được niềm vui Chúa ban cho.

Một buổi chiều trong tuần thánh, Mẹ Bề Trên dẫn vợ chồng tôi xuống thăm một căn pḥng mà ban giám đốc trại gọi là pḥng lưu niệm Hàn Mặc Tử, tọa lạc gần khu An Dưỡng của trại.  Đây là căn pḥng thuộc một dăy pḥng mà các xơ đă xây dựng trước năm 1975 để dùng vào các nhu cầu y tế cho bệnh nhân. Sau ngày bàn giao trại cho nhà nước Việt Nam, ban giám đốc trại đă dùng pḥng này làm pḥng lưu niệm Hàn Mặc Tử. Bởi thế, đây chắc chắn không phải là căn pḥng mà thi sĩ bệnh nhân họ Hàn đă được các xơ tận t́nh chăm sóc như đă ghi ở trên, nhưng chỉ là h́nh thức trưng bày với khách đến thăm mà thôi. Riêng về thời gian Hàn Mặc Tử đến chữa bệnh, hồ sơ trại phong ghi nhận rằng trong năm 1940 có một mốc điểm nhiều người muốn biết đến v́ liên quan đến một bệnh nhân đặc biệt. Đó là bệnh nhân Phanxicô Nguyễn Trọng Trí, tức thi sĩ Hàn Mặc Tử, một người mà tiếng tăm đă đi vào lịch sử thơ văn của Việt Nam. Hàn Mặc Tử vào điều trị ngày 20/9/1940 và từ trần ngày 11/11/1940. Địa danh Qui Ḥa v́ thế bắt đầu gắn liền với phần đời đau bệnh của ông và tạo ra một mảng đời thơ văn thánh thiêng của ông. Địa danh Qui Ḥa với những bóng dáng “thiên thần b́nh an và hoan lạc” được nói đến trong thời gian bệnh của thi sĩ cũng đă đi vào văn học Việt Nam. Bóng dáng thiên thần đó, trước mắt và trong ḷng thi sĩ Hàn Mặc Tử, chính là Mẹ Marie Juetta. Mẹ đến trại phong Qui Ḥa năm 1935, là người đă tiếp nhận bệnh nhân Hàn Mặc Tử và chăm sóc cho đến những ngày cuối đời của ông. Hăy nghe Nguyễn Văn Xê, một bệnh nhân gần gũi nhất của Hàn Mặc Tử ở Qui Ḥa kể lại: “Buổi sáng mùa thu ngày 20/9/1940, Mẹ Juetta lẹ làng chạy ra cửa tiếp nhận hồ sơ từ tay một y tá… Đến giường số 3 Mẹ dừng lại, nh́n vào hồ sơ và nói, “Trí, đây là chỗ của con”… Một ngày khác, Mẹ Juetta bưng đến một tách lớn đầy sữa nóng, và múc từng muỗng cho Trí uống. Trí e ngại nói, “Xin Mẹ để cho con tự bưng uống được.” Mẹ lắc đầu nói, “Không được, để Mẹ đút cho con uống v́ sữa nóng sẽ làm cho con phỏng tay.” Rồi Mẹ sung sướng mĩm cười thấy Trí cố gắng uống cạn ly sữa… (Hàn Mặc Tử, Thơ và Đời, NXB Văn Học, Hà Nội 1933, tr. 189-190). H́nh bóng thiên thần của Mẹ Juetta và của các nữ tu Phanxicô đă giúp tâm hồn thi sĩ tuy đau đớn v́ kịch bệnh vẫn b́nh an cho đến hơi thở cuối cùng.Trong thời gian ngắn ngủi trên giường bệnh, Hàn Mặc Tử đă viết lên bài thơ bằng văn xuôi để nói lên ơn lành quí trọng ḿnh đă nhận được, đồng thời để vinh danh các nữ tu Phanxicô. Bài thơ có tựa đề “Linh hồn thanh khiết”, có những tâm t́nh cảm xúc và cảm mến như sau: “Hỡi các thiên thần của Chúa, thiên thần của b́nh an và hoan lạc, hăy hoan hô các Mẹ và các Chị Ḍng Thánh Phanxicô xuống giữa loài người mà an ủi cho chúng tôi, những kẻ trầm luân yếu đuối, bệnh tật, hủi phong…” (Chơi giữa mùa trăng, NXB An Tiêm, 1969, tr. 69-73)

Pḥng lưu niệm Hàn Mặc Tử, được khánh thành ngày 11/11/1994, thực ra không có ǵ nổi bật ngoài tên gọi và những di vật trưng bày trong đó. Pḥng quay mặt ra hướng biển, rộng khoảng 50 mét vuông và chia thành hai pḥng. Pḥng ngoài nhỏ hơn, có bày một chiếc bàn con với một cuốn sổ viết lưu niệm.  Pḥng bên trong rộng hơn là chỗ đặt bài vị và nhang đèn cùng di ảnh thi sĩ họ Hàn đúc bằng thạch cao.  Một chiếc giường gỗ cá nhân với chiếc chiếu lác đă cũ cũng được trưng bày cho khách đến thăm. Đây có thể không phải là chiếc giường nguyên thủy Hàn Mặc Tử đă nằm khi điều trị ở trại (?), nhưng hy vọng nó có một số tuổi cùng thời (1940) c̣n để lại. Điều này chưa ai kiểm chứng được. Trên tường có treo mấy lá thư riêng, một bài thơ nổi tiếng của ông và một vài tấm h́nh chân dung đen trắng, tất cả đều lộng kiếng.

IMG_4976

Bên trong pḥng lưu niệm Hàn Mặc Tử

 

Tôi quay ra pḥng ngoài, đến lật nhanh từng trang sổ lưu niệm để sẵn trên bàn, thấy có bút tích của nhiều vị khách đạo và đời, đến từ khắp nơi trên đất nước và hải ngoại. Giữa bao nhiêu lưu bút khen ngợi, có một trang lưu bút với nội dung thật ư nghĩa và đáng gẫm suy như sau: “Hàn Mạc Tử được nhiều người biết v́ ông là NHÀ THƠ đă để lại cho đời nhiều bài thơ hay và đẹp! Hàn Mạc Tử khi mắc bệnh phong đă ở đây trên mảnh đất nầy, nơi các nữ tu Ḍng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ sáng lập và chăm sóc. Hẳn nhà thơ đă có những giây phút hạnh phúc bên các người nữ tu hiền lành chăm sóc để rồi “run như run hơi thở tựa tơ ḷng… Maria linh hồn tôi ớn lạnh…” Nhà thơ đă dâng lên Mẹ Maria nỗi đau đớn của ḿnh… V́ dù sao nhà thơ cũng chỉ là một bệnh nhân trong muôn vàn bệnh nhân đă được sống và chết ở đây! Tôi không t́m thấy được một nơi nào nói lời “CẢM ƠN” những người đă CÓ CÔNG gầy dựng lên, đặc biệt là MẸ CHARLES ANTOINE, CHA PAUL MAHEU và BÁC SĨ đầu tiên LEMOIR. Có lẽ bệnh viện phải dành riêng ra một nơi tưởng niệm các nữ tu cho xứng đáng với công lao của các Bà và như thế cho đúng lẽ CÔNG BẰNG!!!” (Qui Nhơn, ngày 13.11.2009, Nguyễn Thanh Trinh, một người sống lâu năm ở Pháp).

P6030080

Trang lưu bút của vị khách từ Pháp

Cá nhân tôi rất tâm đắc với tâm t́nh này của vị khách từ Pháp đến. Bởi lẽ, xét về mặt văn học Việt Nam th́ thi sĩ Hàn Mặc Tử là một thiên tài qua những tác phẩm để đời ai cũng trân quí, nhưng về khía cạnh thân phận của một bệnh nhân th́ Hàn Mặc Tử cũng không có ǵ khác để phải dựng lên một nhà lưu niệm cho riêng ông ngay trong trại. Tôi hiểu, có lẽ khi cho thiết lập nhà lưu niệm này ngay trong khuôn viên trại, ban giám đốc trại chỉ muốn du khách tập trung vào ‘cá nhân thĩ sĩ’ Hàn Mặc Tử nổi tiếng mà thôi, c̣n lại du khách không nhất thiết phải biết đến những ai đă chăm sóc cho bệnh nhân này như đă được mô tả theo trong hồ sơ của trại. Mà xét cho cùng, nếu Hàn Mặc Tử có được những thi phẩm bất hủ cũng là nhờ vào linh hứng của Thiên  Chúa ban cho ông qua ḷng nhân ái và sự chăm sóc của các nữ tu đang ‘băng bó những vết thương của Chúa’ nơi chính thân thể bệnh nhân họ Hàn.

 

Núi Thánh Giá và Đài Đức Mẹ nơi ‘đất thánh’ Qui Ḥa

Hôm Thứ Năm tuần thánh, Mẹ Bề Trên đă báo tin cho vợ chồng tôi biết sẽ lên viếng núi Thánh Giá và đài Đức Mẹ. Chúng tôi vẫn mong có dịp này v́ đă nghe biết đến đỉnh núi thánh thiêng này từ lâu. Sáng Thứ Bảy tuần thánh, sau khi cùng với Mẹ Bề Trên đi một ṿng thăm anh chị em bệnh nhân trong giờ ăn bữa trưa ‘lễ lạc’ của họ, một ḿnh tôi sửa soạn theo Mẹ lên núi thánh trong khi nhà tôi phải nghỉ ngơi trong pḥng v́ bị cảm nặng. Mẹ Bề Trên nói như để tăng thêm tinh thần cho tôi, “Hôm nay Thứ Bảy sẽ có một số bà con giáo dân từ các họ đạo gần đây cũng sẽ lên làm giờ cầu nguyện Ḷng Chúa Thương Xót với chúng ta.” Nói đoạn, Mẹ khuyên tôi nên chọn một cây gậy chống để hỗ trợ cho bước chân leo núi, mà như Mẹ gọi đùa là “Đồi Golgotha này chắc phải dốc hơn đồi Golgotha ngày xưa.” Nói xong, chúng tôi cùng cười xoà và bắt đầu xuất phát.

Đứng trong khuôn viên trại phong, và nếu nh́n cho kỹ trên một chóp núi ở hướng Đông Bắc, người ta sẽ thấy một cây thánh giá màu trắng nổi bật trên nền trời. Đó là Núi Thánh Giá. Núi Thánh Giá là một cụm từ mà đă từ lâu được nhiều giáo dân và cả anh chị em bệnh nhân âu yếm gọi theo nhiều tên khác nhau. Nhưng dần dà mọi người đồng ư với tên gọi “Núi Thánh Giá”, v́ nó vừa thể hiện được sự trang trọng và thánh thiện của một nơi chốn để cầu nguyện, vừa nói lên độ cao của một ngọn núi phải trèo lên mới nh́n thấy được toàn cảnh của trại phong và thành phố biển Qui Nhơn bên dưới. Đi trên con đường chỉ dài 200 mét từ pḥng khách của tu viện đến chân núi, tôi thấy thợ hồ đang ráo riết xây dựng cho xong một công tŕnh ǵ đó. Mẹ cho biết công tŕnh này nằm trong kế hoạch riêng của ban giám đốc trại. Đi tiếp, Mẹ và tôi dừng chân tại một khu đất trống sát chân núi, ở đó có vài ngôi mộ gần bị san bằng qua thời gian. Cỏ dại tràn ngập khu đất cằn cỗi, cộng với tiếng chim tu hú vang lên trong cô tịch, vẽ ra trước mắt tôi một khung cảnh thật u buồn. Mẹ nói đây là nghĩa trang nguyên thủy của trại đă chôn cất các bệnh nhân qua bao năm tháng, và chính Hàn Mặc Tử cũng được các xơ mai táng tại đây. Nhưng trước năm 1975, nghe nói gia đ́nh họ Hàn đă xin dời mộ của Hàn Mặc Tử ra chôn tại một mơm đất cao ráo sát biển Qui Nhơn tại ấp Ghềnh Ráng, chỉ cách trại phong vài cây số.

 

 

P6030089

Công viên tưởng niệm bệnh nhân họ Hàn tọa lạc ngay trong trại

Ngày nay, nghĩa trang mới của bệnh nhân đă được thiết lập trên một lô đất khác về hướng Nam của trại, gần với khu An Dưỡng. Trong khi đó, cách khu đất hoang vu không đầy chục mét là một khung cảnh mà nh́n bề ngoài ai cũng biết là để tưởng niệm Hàn Mạc Tử. Đó là một tượng đài quét vôi trắng, có thiết kế một bức tường cao h́nh chữ nhật, phía dưới có khắc tên tuổi của Hàn Mạc Tử với năm sinh và tử. Bức tường đứng trên một đế ximăng với h́nh dạng một trang sách được mở ra. Toàn bộ khu tượng đài rộng khoảng 400m vuông trên một khu đất bằng phẳng và cao ráo. Một bờ tường xây lững bằng ximăng vây xung quanh tượng đài, biến nơi này thành một di tích cho du khách đến thăm viếng.

Sau đó, chúng tôi tiến đến chân núi để nhập cuộc leo núi. Rải rác đó đây dưới các tàn cây gần chân núi là những chiếc xe động cơ hai bánh mà Mẹ Bề Trên nói là của các giáo dân. Tôi chẳng thấy họ đâu cho đến khi bắt đầu cuộc leo núi họ mới xuất hiện. Để đến điểm xuất phát, Mẹ và tôi phải băng qua một lối đi có cửa cổng do một nữ nhân viên ban giám đốc trại canh giữ. Có lẽ nhờ Mẹ đă quá quen biết với các nhân viên này nên tôi chỉ thấy Mẹ vẫy tay chào và người phụ nữ trong pḥng gác dan cũng vẫy tay chào lại Mẹ. Nhưng nghe Mẹ nói những lần khác có khi những người muốn lên núi Thánh Giá cũng phải chi tiền cho người giữ cổng đó. Qua khỏi cổng, tôi nghe được nhiều tiếng người nói lao xao, nhưng vẫn chưa thấy ai. Bỗng nhiều người từ sau các bụi cây túa ra chào Mẹ. Đếm được khoảng mươi anh chị em, đủ lứa tuổi. Mẹ nói, theo hẹn mỗi chiều Thứ Bảy họ từ nhiều giáo xứ tự nguyện t́m đến với nhau để lên núi cầu nguyện. Tôi nhập cuộc với họ.  Mẹ một gậy, tôi cũng một gậy, mẹ con bươn bả cho kịp đoàn người. Tin ḿnh c̣n chút sức khoẻ nên tôi vừa leo dốc vừa bắt chuyện với các giáo dân trong đoàn, nói năng nghe huyên thuyên lắm. Bỗng tôi quay người nh́n xuống Mẹ đang cách tôi vài mơm đá, thấy Mẹ cũng nh́n lên nheo mắt cười vô tư. Tôi đâu hiểu được ư Mẹ muốn dặn ḍ tôi phải cẩn thận và từ tốn đừng phí sức kẻo lên không tới đỉnh. Mẹ đă trải qua nhiều lần theo đoàn người lên núi nên Mẹ không hấp tấp mà chỉ từ tốn cất bước như

IMG_5004

Đường lên “Golgotha”

 

một đạo sĩ điềm nhiên tự tại. Mẹ chầm chậm đếm từng bước theo đoàn người, trong khi tôi nhịp một nhịp hai cứ thế mà bỏ xa Mẹ. Nhưng chỉ được vài chục mét, tôi phải dừng chân ngửa đầu lên trời thở lấy hơi. Đâu nữa thời trai trẻ như khi vác balô hành quân lên núi.

 

Phiến đá chủ quyền

Đỉnh Thánh Giá nằm trên chóp núi thuộc dăy núi phía Đông Bắc bao bọc trại phong Qui Ḥa, có độ cao khoảng 900 mét so với mặt biển. Đến nay đường lên núi vẫn c̣n là một lối ṃn hoang sơ ngoằn ngoèo từ chân lên tới đỉnh, ngoại trừ một phiến đá lịch sử và một cây thánh giá trổi bật như một chứng nhân, đă được các xơ người Pháp đưa lên núi cắm mốc từ gần 50 năm nay. Theo hồ sơ nói về sự hiện diện của các nữ tu Ḍng Phanxicô Thừa Sai Đức Mẹ đến phục vụ tại trại phong Qui Ḥa th́ các nữ tu người Pháp đă cho thực hiện một phiến đá có khắc số liệu “Năm 1943” cùng một cây thánh giá tạm thời bằng gỗ và đem lên dựng trên đỉnh núi Thánh Giá ngày 1 tháng 6 năm 1961. Cùng thời gian đó, các xơ đă thiết kế luôn một cây thánh giá bằng ximăng, nhưng chưa có thân thể Chúa trên thánh giá. Hôm nay, qua thời gian và thời tiết khắc nghiệt, cây thánh giá cao 7m rộng 4m và phiến đá vẫn c̣n trơ gan cùng tuế nguyệt, để ngày nay khi lên tới mặt bằng của núi ai cũng cảm thấy ḿnh thật nhỏ bé trước cây thánh giá với h́nh Chúa chịu khổ nạn v́ nhân loại và trước một không gian mênh mông cùng biển cả. Riêng phiến đá với chữ số ghi khắc “Năm 1943” vẫn tồn tại ở vị trí nguyên thủy của nó, đánh dấu ngọn núi này từ xa xưa đă thuộc sở hữu của Nhà Ḍng Phanxicô Đức Mẹ.

IMG_5011

Thánh giá Chúa sừng sững giữa nơi không gian và đại dương tiếp giáp nhau

Dần dần, khi leo đến lưng chừng núi, tôi thấy có thêm vài giáo dân xuất hiện, nâng con số người nhập cuộc lên đến hơn 20. Họ thoăn thoắt bám theo từng tảng đá mà lên đỉnh, như những người leo núi chuyên nghiệp. Tại một tàn cây có mấy người ngồi nghỉ chân, tôi ngạc nhiên thấy một bà cụ đă cao tuổi. Khi được hỏi, cụ vui vẻ nhận ḿnh đă 80 nhưng rất thích lên núi này cầu nguyện với Chúa mỗi khi có thể. Tôi tưởng ḿnh nghe nhầm v́ tin rằng không thể nào một cụ già như thế có thể leo núi cao như những người khác. Lúc này đă 2g chiều, ánh nắng càng gay gắt hơn. Riêng tôi mồ hôi vả ra như tắm, tưởng không thể hoàn thành ư nguyện lên núi thánh này được, hoặc phải bỏ cuộc mà thôi v́ tôi có vấn đề về bệnh tim.

 Khoảng 3g, chúng tôi lên tới đỉnh núi, và trước hết được nh́n thấy tượng Đức Mẹ Ban Ơn. Tượng Mẹ bằng ximăng màu trắng, cao 5m, uy nghi trên một tượng đài cũng cao 5m ngay giữa một mặt phẳng lót ximăng rộng khoảng 150m vuông. Tay Đức Mẹ ẵm Chúa Hài Đồng nh́n ra đại dương như t́m cách cứu giúp các con cái Mẹ đang cạy chèo con thuyền trong biển trần gian. Mọi người tuy thấm mệt nhưng nhờ khí trời trong lành và gió biển lồng lộng nên ai nấy vui cười chào hỏi nhau như trong một gia đ́nh. Lúc này, đoàn người đă lên đến con số hơn 40. Đoàn người cung kính chào Mẹ và tiếp tục di chuyển lên đồi trên để gặp gỡ Chúa.  Vừa lên tới đỉnh Thánh giá, chúng tôi đứng ngay trên một mặt bằng rộng khoảng 250m vuông có những tấm gạch xi măng vuông vức ghép lại.

IMG_5034

Tượng Đức Mẹ Ban Ơn trên núi Thánh giá

 

Theo lời kể của Mẹ Bề Trên, mặt bằng trên đỉnh núi Thánh Giá, hay nói đúng hơn những cơ sở hiện có trên đỉnh núi Thánh giá, là thành quả của một công tŕnh khởi đi từ sự khai phá của các xơ tiên khởi gần 50 năm trước, cũng như gần đây là do công sức chỉnh trang và tu bổ thêm của anh chị em giáo dân hợp tác với nhau.  Mẹ Bề Trên cho biết, chính anh chị em giáo dân và một số ít bệnh nhân đă hoàn tất tu bổ và xây thêm vài cơ sở trên đỉnh núi này chỉ trong một thời gian kỷ lục 2 tháng. Đó là lót gạch cho một mặt bằng rộng 250m, thiết kế một lễ đài tư vuông cao 1m2 để vừa làm chân bệ thánh giá vừa làm bàn thờ dâng lễ, những trụ đèn trang hoàng quanh thánh giá, nhất là việc ráp h́nh thân thể của Chúa vào cây thánh giá có sẵn. Riêng việc thiết kế thân thể Chúa khá công phu về mỹ thuật và tốn kém, được biết các xơ  đă vào tận Thủ Đức mời thầy Vừng của Ḍng Phanxicô ra Qui Ḥa và lên núi Thánh giá để nghiên cứu. Sau một thời gian, thầy Vừng đă thiết kế xong thân thể Chúa bằng một hợp chất composite có độ nén cao để chịu đựng được với mưa nắng và nhất là chống được hơi muối từ mặt biển có thể ăn ṃn hợp chất  này. Phí tổn hơn mười triệu đồng Việt Nam (=US$500.00). Ngoài ra, một hệ thống thu lôi cũng đă được dựng lên tại hai tượng Thánh giá và Đức Mẹ. Số là trong những tháng mưa băo, có lần sét đă đánh bể vài tấm bảng tạ ơn gắn dưới chân thánh giá và đài Đức Mẹ. Với mục đích để tránh những thiệt hại do sấm sét gây ra trong tương lai, và có thể nguy hiểm đến tính mạng những người lên thăm đỉnh núi, anh chị em giáo dân đă thực hiện xong hệ thống thu lôi trên đỉnh trong năm 2009. Một cột sắt cao 12 mét được dựng ngay sau tượng đài Đức Mẹ, trong khi một hệ thống khác nhỏ hơn được dấu ngầm sau thân thánh giá. Ngày khánh thành các công tŕnh này đă được đánh dấu bằng một thánh lễ tạ ơn vào ngày 15 tháng 9 năm 2007, do cha xứ đương kim của trại phong chủ tế. Đă có một câu hỏi mà rất nhiều du khách cả từ trong và ngoài nước thường hỏi khi đến thăm trại và có dịp lên tận đỉnh núi Thánh giá. Đó là chính quyền có gây khó dễ ǵ đối với việc việc xây cất các công tŕnh trên núi này không? Câu trả lời là chính quyền sở tại cụ thể có xen vào nhưng không gây khó dễ, nếu không muốn nói là họ không thể ngăn cấm. Lư do v́ sau 1975 khi bàn giao cơ sở trại phong lại cho nhà nước Việt Nam, các xơ đă căn cứ vào giấy tờ c̣n để lại của các xơ người Pháp có nói đến cột mốc “Năm 1943” trên đỉnh núi để trưng dẫn bằng chứng chủ quyền của nhà ḍng trên vùng núi Thánh giá. Trong hồ sơ bàn giao xác nhận một sở hữu đất đai khoảng 3.3 mẫu  của nhà ḍng sẽ không bị chính quyền chiếm hữu, trong đó gồm có khu vực trên núi Thánh giá.  Đành rằng cho đến nay, rất nhiều diện tích đất đai khác của trại do các xơ và anh chị em bệnh nhân khai phá qua bao thời gian đă bị chính quyền địa phương bán cho công ty du lịch tư nhân, nhưng họ không thể chiếm lấy 3.3 mẫu c̣n lại của nhà ḍng. Tuy nhiên, trong quá tŕnh khi anh chị em giáo dân và một số bệnh nhân thực hiện các cơ sở trên núi thánh giá, chính quyền sở tại cũng có dẫm chân vào. Họ khuyến cáo các giáo dân không được tập trung đông đảo hoặc gây ồn ào tại khu vực núi thánh giá, nếu không họ sẽ ra lệnh. Bởi vậy, các giáo dân tuy không hoàn toàn bị ngăn cấm nhưng đă rất khôn ngoan khi khởi sự. Tiến tŕnh xây dựng trên núi thánh hầu hết được diễn ra vào tờ mờ sáng để tránh sự can thiệp của chính quyền. Trong thời gian lưu trú tại trại phong, tôi cũng đă được xem một số h́nh ảnh ghi lại những ngày gian nan và kiên tŕ của anh chị em giáo dân trong việc xây dựng các cơ sở hạ tầng trên núi Thánh giá và đài Đức Mẹ mà tôi được đặt chân đến trong dịp này. Mẹ Bề Trên nói: “Trong thời gian xây cất, để tránh sự ḍm ngó của ban giám đốc trại, cứ 4 giờ sáng là một số anh chị em bắt đầu mang theo dao rựa đến chân núi phát quang cây cối để dọn một đường ṃn lên núi. Tiếp theo là việc chuyển vận vật liệu lên núi, như xi măng, nước, gạch, dụng cụ xây cất… v..v… Họ chia vật liệu ra từng bao nhỏ, vừa đủ cho sức mỗi người mang vác lên núi. Cứ vậy, ngày này qua ngày khác, như kiến tha lâu đầy tổ, các vật liệu được cất dấu một nơi cho đến khi có đủ th́ các xơ mới thuê thêm thợ xây tiến hành lót mặt bằng nơi tượng thánh giá như đang có hiện nay. Chính anh chị em giáo dân là người tự nguyện và quyết tâm làm cho được điều họ mong muốn, trong khi các xơ không thể công khai lộ diện. Các xơ chỉ âm thầm tiếp sức cho anh chị em bằng lời khuyến khích, cũng như bồi dưỡng cho sức khỏe của anh chị em mà thôi.

IMG_5021

Với anh chị em giáo dân sau giờ tôn vinh Ḷng Chúa Thương Xót

Trong lần đầu tiên được lên viếng núi Thánh giá hôm đó, tôi cầu nguyện xin Chúa Thương Xót trả công bội hậu cho các anh chị em giáo dân là tác giả của những công tŕnh đă được thực hiện xong để vinh danh Ngài. Tôi cũng nhớ đến Mẹ Bề Trên và các xơ đă quan tâm hỗ trợ tinh thần và vật chất cho anh chị em trong suốt thời gian xây dựng cơ sở vật chất trên núi thánh. Là người đưa tin, tôi ghi nhận có một nhu cầu rất cần thực hiện ngay để bảo vệ sự an toàn cho cả khách và những anh chị em giáo dân khi đứng trên hai mặt bằng. Đó là cần có những thành lan-can để bao chung quanh hai mặt bằng nơi đỉnh núi thánh giá và tượng đài Đức Mẹ. Ước mong sao những khách lên viếng thăm núi Thánh giá sẽ quảng đại quên góp hiện kim để sớm thực hiện phần lan-can và thêm những tiện nghi khác trên núi thánh này.

Bây giờ khoảng 3g rưỡi chiều, ánh tà dương vẫn chói chang trên chóp núi Thánh giá. Mọi người chuẩn bị cho chương tŕnh giờ tôn vinh Chúa, v́ theo thông lệ mỗi chiều Thứ Bảy khi lên núi anh chị em sẽ cầu nguyện và tôn vinh Ḷng Chúa Thương Xót ngay dưới chân Thánh giá ở đồi trên. Trong Giáo hội Công giáo, khi nói đến Ḷng Chúa Thương Xót là nói đến t́nh yêu bao la và sự tha thứ vô biên của Thiên Chúa Nhân Từ dành cho bất cứ một con người nào trong nhân loại. Tuy nhiên, tin hay không tin vào Ḷng Chúa Thương Xót lại là một việc khác, hoàn toàn hệ tại ở sự tự do và lựa chọn của mỗi người, không phân biệt niềm tin tôn giáo. Và Thiên Chúa tôn trọng sự tự do đó của mỗi cá nhân. Nhưng đối với người công giáo, nhất là trong giai đoạn hiện tại, mỗi người đều được giáo hội mời gọi trở về với Ḷng Chúa Thương Xót, trước khi quá trễ. Và  hôm đó, v́ tôi là khách từ phương xa đến nên đă đề nghị anh chị em giáo dân cho tôi có cơ hội thực hiện chương tŕnh cầu nguyện của tôi trước, v́ đây là sự ủy thác của một nhóm Ḷng Chúa Thương Xót bên Cali muốn tôi cầu nguyện trong chuyến hành hương này. Và lời đề nghị của tôi được mọi người chấp thuận. Trong một tiếng đồng hồ, với xâu chuỗi trên tay, cùng với Mẹ Bề Trên tôi được qú gối giữa 40 anh chị em cầu nguyện trước tượng Thánh giá của Chúa để van xin Chúa “Thương xót chúng con và toàn thế giới”. Ngước mắt nh́n lên Thánh giá, thấy Chúa chịu chết v́ tội lỗi ḿnh và của con cháu ḿnh, tôi bỗng nhận ra t́nh thương của Chúa dành cho gia đ́nh tôi thật vô biên. Tự nhiên hai hàng nước mắt tôi tuôn chảy không sao cầm lại được. Liếc nh́n xung quanh, một số anh chị em tôi cũng lần chuỗi với khuôn mặt chan ḥa nước mắt. Có người quá xúc động vừa đọc kinh vừa nghẹn ngào không nên lời. Chúa ơi, ḷng Chúa thương chúng con thật quá bao la như đại dương đang dạt dào dưới chân núi Thánh giá này. Sau chương tŕnh lần chuỗi của tôi yêu cầu, đến lượt các giáo dân qú gối tiếp tục làm giờ tôn vinh Ḷng Chúa Thương Xót như tôi biết họ vẫn làm mỗi khi qui tụ lại với nhau trên núi thánh này. Nước mắt tôi lại chảy ra v́ được đánh động bởi sự kiên cường và tuyên xưng đức tin của anh chị em tôi.

IMG_5014

Với giáo dân trong giờ tôn vinh Chúa Thương Xót

trên đỉnh núi Thánh Giá giữa trời biển mênh mông

 

Đang hiện diện giữa một cộng đồng con cái Chúa nơi quê nhà và chứng kiến ḷng tin trung kiên của họ, tôi bỗng nhớ đến câu nói của một linh mục Việt Nam khi qua du lịch bên Mỹ khoảng 10 năm trước. Linh mục này có lẽ để nhận định hoặc so sánh đức tin và đời sống đạo của giáo dân Việt Nam tại Mỹ đă kết luận: “Ở Mỹ có nhà thờ nhưng không có Chúa. C̣n ở Việt Nam th́ có Chúa nhưng không có nhà thờ.” Dĩ nhiên tôi hiểu cả nghĩa đen và nghĩa bóng câu nói của ngài, nhưng tôi nghĩ không nhất thiết ngài phải nói ra như thế, nếu không muốn nói là một câu nói có tác dụng tiêu cực cho đời sống đạo của giáo dân ở hải ngoại nói chung và cách riêng ở Mỹ. Đồng ư là đức tin của người tín hữu Công giáo nói chung trong nhiều giai đoạn có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố khách quan, nhưng rơ ràng thời gian đă chứng minh người công giáo Việt Nam dù ở bất cứ môi trường nào và hoàn cảnh nào, trong hay ngoài nước, vẫn trung kiên với Chúa và hết ḷng phát triển hạt giống đức tin của ḿnh. Theo tôi, không hẳn ở Mỹ chỉ có nhà thờ, và chưa chắc ở Việt Nam đă hoàn toàn có Chúa. Chắc chắn ngài cũng thấy được người tín hữu ở Mỹ đạo đức lắm chứ. Tôi tưởng hệ tại của vấn đề là ở chỗ chiều sâu của đức tin của người Công giáo đang ở mức độ nào trong mỗi hoàn cảnh chứ không phải v́ lư do nhất thời của hoàn cảnh tạo ra. Tôi cho rằng giáo dân ở quê nhà không những có cả Chúa mà c̣n ‘có cả nhà thờ’, v́ tôi quan niệm nhà thờ không nhất thiết chỉ là một mặt bằng có hai mái che và bốn bức tường vây kín. Đỉnh núi Thánh Giá, nơi mà tôi đang có diễm phúc đặt chân đến hôm nay, c̣n có một giá trị gấp bội hơn hàng trăm ngôi thánh đường nguy nga. Như thế, Việt Nam ngoài việc đă  có Chúa nhờ vào kết quả của hạt giống đức tin do các nhà thừa sai gieo trồng 350 năm trước, c̣n có hằng trăm hằng ngàn nhà thờ như thế, hiểu theo nghĩa của đức tin.

 

Đức Mẹ Măng Đen, Kontum

Theo lộ tŕnh, chúng tôi rời Qui Nhơn đi tiếp vào Nha Trang, rồi từ đó xuôi Nam để rẽ về Bà Rịa thăm cô em tôi. Đă thật lâu anh em chúng tôi không gặp lại nhau, tôi cứ h́nh dung ra đứa em thử bảy của ḿnh vẫn c̣n non dại hoặc hôm nay không đủ đức tin để dạy dỗ con cái, điều mà tôi là anh cả chị đầu vẫn hay nhắc bảo em ḿnh khi bố mẹ tôi c̣n sống. Tạ ơn Chúa, nay em đă khôn lớn, chững chạc hẳn ra, nhất là vui mừng thấy cô ấy khá trưởng thành trong việc sống đạo và hành đạo. Cô khoe với vợ chồng tôi, “Thế nào em cũng phải đưa anh chị đi thăm Đức Mẹ Măng Đen cho bằng được. Trên Kontum đó, tụi em đi hoài à.” Và để thuyết phục chúng tôi, cô xác định thêm, “Việt kiều ai về xin ơn đều được như ư. Anh chị đi thử cho biết. Nhưng bây giờ anh chị cứ xem thử DVD cho biết đă.”

Xem xong cuốn DVD, thú thực chúng tôi rất xúc động khi nh́n thấy Đức Mẹ không có hai bàn tay, nhất là không biết tại sao khuôn mặt Đức Mẹ lại lộ vẻ hoảng hốt đến tột độ. Nhưng chúng tôi cũng thích thú v́ biết thêm được một tước hiệu khác của Đức Mẹ là Đức Mẹ Măng Đen mà ở Mỹ chưa nghe ai nói đến bao giờ. Từ xúc động đến ngạc nhiên, từ thú vị đến ṭ ṃ, tôi hỏi em tôi khi nào đi viếng Đức Mẹ Măng Đen được. Cô nói phải đến một tuần sau nữa mới có chuyến đi, c̣n nếu bao xe th́ có thể đi bất cứ lúc nào. Nghe cô em nói và được nh́n h́nh của Đức Mẹ Măng Đen qua DVD, chúng tôi cũng háo hức muốn đi một lần cho biết. Nhưng đến chiều tối, tôi cảm thấy trong người hâm hấp sốt, có lẽ do ảnh hưởng ‘tắm nắng quê nhà’ suốt mấy tuần lễ và ngụp lặn trong một không khí ngột ngạt khói xe và ô nhiễm trong chuyến đi. Tôi nghĩ đây là dấu hiệu của cơ thể cho biết cần phải lưu tâm đến sức khỏe, v́ chương tŕnh hành hương c̣n khá dài. Sáng hôm sau cơn sốt không tăng nhưng có dấu hiệu bất thường, một phần có lẽ v́ tôi cũng đă bị tào tháo đuổi hai lần kể từ ngày nhập cuộc hành tŕnh đến nay. Tôi thầm nghĩ, có lẽ một dịp khác sẽ không muộn để đến tận đài Đức Mẹ Măng Đen mà cầu khẩn như lời em tôi kể. Tôi xin hẹn với Mẹ và cám ơn cô em đă sốt sắng chia sẻ về một danh hiệu đáng suy gẫm của Đức Mẹ. Ở lại với gia đ́nh cô em hai hôm, trước khi lên đường tôi nói với em tôi muốn có thêm những tư liệu về Đức Mẹ Măng Đen như đă được nghe biết, hầu có thể mang về Cali làm quà cho bạn bè. Thế là cô em thao thao bất tuyệt nói đến những ǵ cô biết về tước hiệu này của Đức Mẹ, như thể cô sợ tôi đổi ư không muốn nghe nữa. Lại nữa, cô em tôi là một trong những thành viên nhiệt thành của một nhóm khoảng 15 người, cứ vài tháng lại  tổ chức hành hương đi Kontum kính viếng Đức Mẹ Măng Đen, như chúng tôi đă nh́n thấy trong DVD. Trong gần một tiếng đồng hồ, cô kể một hơi về lai lịch của bức tượng Đức Mẹ Măng Đen. Kể xong cô c̣n cẩn thận đưa cho tôi số điện thoại của một linh mục Việt Nam ở Kontum để hỏi thêm chi tiết, v́ tuy không ở gần khu vực Măng Đen nhưng cha biết rành rẽ về tượng Đức Mẹ Măng Đen. Tôi gọi ngay cho Cha Simon Phan Văn B́nh, 78 tuổi, để thu thập thêm tin tức cho đầy đủ. Cha B́nh hiện phụ trách giáo xứ Hơ Mong, huyện Sa Thây, Kontum. Qua lời kể của cô em cũng như của cha B́nh, tôi sắp xếp lại mọi chi tiết và tóm lược xuất xứ của tượng Đức Mẹ Măng Đen hầu làm quà cho quí bạn đọc.

Măng Đen mà ngày nay sắp trở thành khu du lịch nổi tiếng đáng gọi là Đà Lạt thứ 2, thực ra chỉ là một địa danh quá tầm thường không mấy ai quan tâm như bất cứ một địa danh nhỏ nhoi nào khác của tỉnh Kontum trước 1975. Nhưng trong mấy năm vừa qua, Bộ Bộ Tài chánh và Du lịch của Việt Nam đă nhận được 36 dự án của các công ty trong nước và ngoại quốc đầu    để xây dựng khu vực Măng Đen thành trung tâm du lịch tầm cỡ. Lư do v́ Măng Đen tuy chỉ là một vùng hẻo lánh nhưng nhờ vào khung cảnh miền núi thoáng khoát với khí trời trong lành và dân cư hiếu khách, xứng đáng để khách du lịch đến tận hưởng. Trong năm nay (2010), theo quyết định của Bộ Tài chánh và Du lịch, một khoản tiền 125 triệu đôla được dùng để khoanh vùng Măng Đen và

images1899675_MangDen-KTum

Vùng du lịch Măng Đen trong tương lai với kinh phí đầu tư $126 triệu đôla.

khởi công xây cất cơ sở du lịch đầu tiên, mà cụ thể là những dăy villas sang trọng sẽ thu hút thêm đầu tư. Măng Đen nằm vào địa điểm trung tâm huyện Kon Plong, chỉ cách khu dân cư của huyện trên dưới một cây số, và cách thị xă Kontum khoảng 50 cây số về hướng Đông Bắc trên cao nguyên Trung phần Việt Nam.

Nhưng một dấu hiệu của Đức Mẹ đă được tiết lộ để con cái khắp nơi t́m đến với Mẹ. Khởi đi từ một câu chuyện được truyền tụng hơn 35 năm qua, để ngày nay khu vực Tượng Đức Mẹ Măng Đen đang được giáo quyền Kontum lưu tâm đến. Chuyện bắt đầu với thời gian chiến cuộc trước biến cố 1975. Tại một khu đất thoai thoải trong khu rừng Măng Đen có một đại đội Địa phương quân của Việt Nam Cộng Ḥa đồn trú. Cạnh khu trại đó, trên một trụ xi măng có sẵn lâu đời, một tượng Đức Mẹ cao cỡ 1m2 cũng làm bằng xi măng đứng hiển trị trong khung cảnh u tịch, không biết do ai xây lên. Như là một chuyện b́nh thường trong thời chiến, đơn vị này đi rồi đơn vị khác đến, không ai quan tâm hoặc xin ơn ǵ với Mẹ. Thế rồi bom đạn bao lần dội xuống khu vực quân sự này và tàn phá một phần tượng Mẹ. Phần đầu và hai tay của tượng bị hư hại nặng nhưng không ai để ư làm ǵ.

Sau biến cố tang thương 1975, dân các nơi bắt đầu tuôn về vùng Măng Đen kiếm đất làm ăn, biến nơi đây thành một vùng làm rẫy. Hằng ngày từng đoàn người vô t́nh đi qua lại trước tượng Mẹ mất đầu mất tay. Người đạo Phật th́ coi đó là h́nh ảnh của Phật Bà, người theo đạo Chúa th́ nhận đó là Đức Mẹ. Nhưng chẳng ai bận tâm, v́ c̣n phải lo chạy bữa cho gia đ́nh. Khoảng năm 1978, có một việc xảy ra tạo nên một tin đồn không những trong vùng Măng Đen mà c̣n lan xuống đến cả vùng tỉnh B́nh Định. Số là một cán bộ Cộng sản nằm mơ thấy một bà đẹp hiện ra nhưng thân h́nh của bà lại không có đầu và hai tay, nhưng v́ vô tín ngưỡng anh ta không để ư làm ǵ. Lại một hôm khác trong dịp về thăm gia đ́nh tại B́nh Định, anh lại thấy bà đẹp ấy trong một giấc mơ khác, cũng với một h́nh tượng cụt đầu và thiếu hai tay. Nhưng trong giấc mơ kỳ lạ lần này người cán bộ Cộng sản c̣n nghe cả tiếng nói từ bà đẹp phán ra: “Ta muốn con phục hồi thân thể ta cho đầy đủ với đầu và hai tay.” Người cán bộ Cộng sản và cả gia đ́nh anh tuy vô thần nhưng cảm thấy sợ hăi trước lệnh truyền huyền bí này. Anh liền trở lại Kontum và tự ḿnh đúc h́nh một chiếc đầu phụ nữ bằng xi măng và tháp chiếc đầu vào bức tượng lạ. C̣n đôi bàn tay của bức tượng, v́ nghĩ rằng ḿnh không có khả năng mỹ thuật để làm cho đẹp nên anh chỉ quấn lại bằng vải thô, với ư định sau này sẽ thực hiện bằng xi măng nếu có điều kiện. Qua thời gian vải quấn nơi tay bị mục nát, tượng lại được người khác tiếp tục quấn thêm vải mới đủ màu theo ư thích của mỗi người. Riêng anh cán bộ sau đó v́ công vụ nên phải đi xa và không thấy trở về địa phương Măng Đen nữa. Nghe kể lại, trước khi đi xa anh đă tự ḿnh sơn phết lại toàn thân tượng, nhất là trên khuôn mặt của bức tượng anh tự sơn theo sự suy diễn của riêng ḿnh. Anh cho rằng đây phải là khuôn mặt của một phụ nữ sợ hăi khi bị bom đạn tàn phá. Ngày nay bất cứ ai đi qua và nh́n lên bức tượng đều thấy khuôn mặt của tượng có đôi mắt mở thật lớn, nhất là đôi tṛng đen được vẽ lớn hơn nên càng biểu lộ nét hoảng hốt và lo âu.

 

 

C:\Users\Peter Nguyen\Pictures\2010-05-20\Print0004.JPG

Khuôn mặt Đức Mẹ hốt hoảng qua việc tái tạo do người cán bộ

Cộng sản thực hiện.Vẫn c̣n thiếu hai tay của Mẹ.

(H́nh do nhóm hành hương tại Việt Nam cung cấp)

Trong khi đó, khoảng giữa năm 1978-1980, dân chúng đến lập nghiệp tại vùng Măng Đen càng ngày càng đông. Người dân tộc và người kinh cùng ḥa đồng với nhau để tạo dựng đời sống trong giai đoạn khó khăn nhất của đất nước. Và v́ nhu cầu khai khẩn đất làm rẫy, chính quyền bắt đầu khai quang vùng Măng Đen để giúp dân lập nghiệp. Một chiếc xe ủi đất theo chỉ thị cấp trên đă đến để phóng một con đường vào khu vực rẫy. Khi ủi đất, người tài xế có ư định triệt hạ luôn cột trụ có bức tượng của Đức Mẹ khi đó vẫn chưa có đầu và hai bàn tay. Nhưng sao lạ quá, anh ta tuy muốn húc bửng xe vào cột trụ cho sập nhưng không sao điều khiển được tay lái để xe đi tới gần cột trụ được. Cuối cùng, người tài xế không thực hiện được lệnh trên nên đă ủi đất làm đường lệch đi, và dần dà không ai nhắc đến chuyện lạ này nữa, tuy rằng hằng ngày người dân vẫn di chuyển qua lại trước bức tượng. Sau này nghe kể lại, cũng có vài người ṭ ṃ dừng lại chứng kiến hiện tượng lạ và truyền miệng với nhau một thời gian, nhưng sau đó nghe nói chính quyền ra lệnh cấm đồn đăi tin đồn này.

Từ sau năm 2000, khi chính quyền không c̣n để ư đến lời đồn thổi về bức tượng nữa -- mà người địa phương gọi là ‘tượng bà lạ’ trước khi được đổi tên thành tượng “Đức Mẹ Măng Đen” như hôm nay -- thỉnh thoảng người ta thấy có một nhóm người thỉnh thoảng đến với tượng bà lạ. Dần dà ai cũng nhận diện ra nhóm nhỏ này không phải là dân cư quanh vùng Măng Đen, nhưng từ địa phương khác đến. Ban đầu những người thuộc nhóm nhỏ đến như khách du lịch, sau đó thấy động tĩnh không có ǵ đáng ngại nên bắt đầu tổ chức đọc kinh. Dần dần có cả người kinh lẫn người thượng cùng đến gia nhập mỗi khi có nhóm nhỏ xuất hiện, nhất là các thanh niên dân tộc lại thích đến với nhóm nhỏ để nhận được những thực phẩm khô của nhóm hành hương mang đến phân phát miễn phí. Cứ thế, trong khoảng 10 năm đổ lại đây, một phong trào hành hương gồm vài chục người từ các nơi xa đến cầu nguyện đă h́nh thành. Thực sự chính quyền địa phương có biết nhưng không hiểu v́ sao họ không cấm cản một cách triệt để như trước kia, thậm chí họ c̣n làm ngơ trong một số trường hợp cho nhóm hành hương được dễ dàng lui tới. Dân địa phương, nhất là bà con dân tộc, lại tỏ ra phấn khởi hơn và thường đến tham gia suốt buổi với nhóm hành hương. Có lẽ chính quyền thấy ít ra trong lúc này không cần thiết phải cấm cản làm ǵ, v́ dù sao họ thấy người dân địa phương nhiều lần cũng đă nhận được một số thực phẩm của khách hành hương. Duy có một điều là nhân viên của Ủy ban Xă có vài lần đến và cho nhóm hành hương biết là không được dùng hệ thống âm thanh trong lúc hành hương. Ngoài ra họ không cấm đoán ǵ thêm. Người theo đạo Công giáo th́ nói đó là sự can thiệp của Đức Mẹ, và thường xuyên đến cầu nguyện kể cả những khi đoàn hành hương không hiện diện. Cũng đă có nhiều lời đồn thổi về những ơn lạ, mà theo người hành hương Công giáo gọi là phép lạ Đức Mẹ làm, c̣n những người ngoại giáo th́ gọi là điềm lạ. Nhưng cũng theo lời truyền khẩu, th́ những người hành hương ngoại giáo lại nhận được ơn lạ nhiều hơn người Công giáo. Dần dà, những ơn lạ được truyền miệng nhiều hơn sau những chuyến hành hương, càng ngày càng lôi cuốn thêm nhiều đoàn người từ phương xa đến. Thậm chí nhiều Việt kiều về thăm quê nghe tin cũng t́m đến cầu nguyện xin ơn. Nhờ đó, khu vực tượng Đức Mẹ Măng Đen ngày nay đă có được một mặt bằng với vài công tŕnh thô sơ xây cất xung quanh tượng Mẹ, nhờ tiền dâng cúng của khách hành hương quyên góp, tuy khiêm nhường nhưng cũng giúp h́nh thành thêm những tiện nghi khác trong tương lai.

Cũng theo Cha Phan Văn B́nh, có một điều đă ghi nhận được từ phía giáo quyền Công giáo tỉnh Kontum liên quan đến khu Tượng Đại Đức Mẹ Măng Đen. Đó là trong một hai năm vừa qua ṭa Giám mục Kontum đă gửi đơn đến chính quyền địa phương để xin phép tu bổ lại khu vực nơi có tượng Đức Mẹ. Trước mắt, giáo quyền mong muốn chính quyền chấp thuận cho phép mua thêm 2 mẫu đất gần tượng Đức Mẹ để khởi công xây dựng vài công tŕnh cơ bản. Cha B́nh cho biết, ngoài lời cầu nguyện, giáo quyền cần nhiều kiên nhẫn và sẽ phải trải qua nhiều thử thách, v́ hiện tại theo tin tức nhận được th́ Bộ Tài chánh và Du lịch của nhà nước Việt Nam đă đưa ra dự án khoanh vùng Măng Đen để xây dựng một trung tâm du lịch, như đă ghi ở trên.

Chúng ta, những tín hữu Việt Nam tại quê nhà hay hải ngoại với truyền thống tôn sùng Đức Mẹ cách sâu đậm, hăy tiếp tục chạy đến với Đức Mẹ-- không nhất thiết Mẹ phải mang tước hiệu Mẹ Măng Đen hay Mẹ La Vang, -- để xin Mẹ ǵn giữ và che chở cho Giáo hội Việt Nam và an ủi giáo dân Việt Nam đang đau khổ dưới ách thống trị của một nhà cầm quyền vô thần. C̣n việc giáo quyền Kontum xin tu bổ khu vực Đức Mẹ Măng Đen có được chính quyền chấp thuận hay không, tuy cần thiết nhưng không phải là điều chính yếu. Chúng ta cứ tin rằng, nếu đẹp ḷng Đức Mẹ th́ mọi chuyện ắt sẽ xảy ra như ư Mẹ, hầu tạo thêm một vinh quang nữa trên triều thiên của Mẹ.

 

Ai cũng là thợ gặt của Chúa trong cánh đồng truyền giáo

Như đă thưa ở trên, chuyến đi Việt Nam của chúng tôi được Chúa cho cơ hội gặp gỡ với nhiều thành phần khác nhau của cộng đồng dân Chúa. Cảm tạ Chúa, hầu như chúng tôi đă được như ư.

Trong hơn 4 tuần lễ di chuyển đó đây, từ Sàig̣n ra đến Đà Nẵng là điểm xa nhất của chuyến đi, chúng tôi may mắn được tiếp xúc với một số các linh mục triều và Ḍng, các nữ tu Hội Ḍng Mến Thánh Giá, các đại chủng sinh đang giúp xứ, một nhóm sinh viên Công giáo địa phận Vinh, các đoàn thể Công giáo tiến hành tại vài giáo xứ, các anh chị em tân ṭng. Tại mỗi nơi, qua tiếp xúc và sinh hoạt gặp gỡ với từng thành phần dân Chúa khác nhau, chúng tôi trực tiếp chứng kiến và học hỏi từ những gương sống đạo kiên cường và ḷng nhẫn nại chịu đựng của những người con Chúa. Tôi nhận ra có những thành phần con Chúa chấp nhận sống như người-ở-vào-thế-yếu để có điều kiện nuôi dưỡng đức tin và chăm sóc cho đời sống tu tŕ của người trẻ. Điển h́nh là trường hợp một Mẹ Bề Trên trẻ tuổi Ḍng Mến Thánh Giá ở một vùng sâu vùng xa thuộc giáo phận Đà Nẵng. Mẹ thường xuyên bị chính quyền địa phương kêu lên ‘làm việc’ v́ Mẹ bị phát hiện đă bất hợp pháp nuôi một số các em gái từ ngoài Bắc vào ở chung trong tu hội của Mẹ để t́m hiểu ơn gọi tu tŕ. Nghe nói, trong những lần bị hạch sách như thế, Mẹ chỉ nhỏ nhẹ nhận lỗi và im lặng, rồi lại nhận lỗi và im lặng. Một sự im lặng mang ư nghĩa nhẫn nại, nhưng cũng biểu tỏ sự khôn ngoan ‘lùi một bước để tiến hai bước’. Mẹ nói, “Tôi chấp nhận tất cả, miễn là họ đừng đuổi các em về lại ngoài Bắc là được, về ngoài đó khổ lắm.”

IMG_4998

Cùng Mẹ Bề Trên Anna Phùng Thị Cát, chuyện trị với các sinh viên cơng giáo địa phận Vinh

 

Lại cũng có những giáo dân tầm thường nhưng rất anh dũng tuyên xưng đạo Chúa trước người đời. Đây là trường hợp đáng khâm phục của một cặp vợ chồng trung niên, cũng tại Đà Nẵng. Họ làm chủ một xưởng may công nghệ có hơn 25 nhân công, nhưng sau khi tan việc lúc 3 giờ chiều, cả chủ và thợ đều quây quần trong pḥng khách của xưởng để làm giờ tôn vinh Ḷng Chúa Thương Xót.

Tôi rất tiếc đă không tham dự được một buổi cầu nguyện như thế với họ trong mấy ngày vắn vỏi ở Đà Nẵng, nhưng theo lời của nữ tu Maria Nguyễn Thị P. (cũng là chị họ của tôi) đang là Mẹ Bề Trên của Ḍng Mến Thánh Giá T. V. th́ ông bà chủ hăng đó c̣n hứa sẽ tài trợ cho nhu cầu của bất cứ một cá nhân hay hội đoàn nào chủ xướng việc tôn vinh Ḷng Chúa Thương Xót. Ngoài ra người tín hữu tại quê nhà cũng rất mực quan tâm đến việc mang Chúa đến cho tha nhân, mà tôi cho đó là một ơn gọi. Trường hợp này là của chị Têrêxa Nguyễn Thị Xuyến quê Nha Trang, ở gần nhà thờ Phước Hải. Chồng chị là bạn tù với tôi ở trại 54 Ngân Điền (Khánh Ḥa) sau biến cố 1975; anh mới chết cách đây vài năm v́ bệnh đái đường. Anh chị lấy nhau đă muộn lại có 2 đứa con cách xa tuổi nhau nên đứa út nay vẫn c̣n tuổi đi học. Hoàn cảnh góa chồng và nuôi con ăn học, thế mà chị Xuyến can đảm dâng hiến thời giờ trong ngày của ḿnh cho Chúa. Mỗi ngày, sau khi dự lễ 4g30 sáng tại nhà thờ Phước Hải, chị về nhà chuẩn bị cho con ăn sáng và đưa con vào trường, sau đó chị đến từng nhà có người già neo đơn đă hẹn trước. Họ là những người cần sự giúp đỡ lặt vặt trong nhà và muốn học đạo. Chị Xuyến đă mang Chúa đến cho họ qua những sự giúp đỡ nhỏ nhoi trong công việc lặt vặt nhưng sống động nói lên t́nh yêu tha nhân. Chị cho biết, “Đôi khi em túng lắm, không có lấy một lon gạo cho con, nhưng rồi Chúa xui khiến người khác cho con em quá nhiều thức ăn.”  Tôi học được gương phó thác vào Chúa nơi người chị em này. Riêng tại Tân B́nh (Cam Ranh), tôi được xơ Phùng Thị Hoan, nữ tu Mến Thánh Giá, mời sinh hoạt chuyện tṛ với một nhóm 20 người trẻ mới trở lại đạo được mấy năm nay. Họ chuẩn bị để lập gia đ́nh với nhau. Một người trẻ khoảng 26 tuổi, khi tôi hỏi ‘Tại sao em muốn trở thành người con Chúa’, đă hân hoan trả lời: “Em thấy vào đạo th́ đời em sẽ có mục đích để mà sống.” Tôi tưởng câu nói đó đă xác nhận thành quả việc tông đồ mà bao tâm hồn tốt lành trên quê hương Việt Nam thân yêu ngày hôm nay đang làm để mang Chúa đến cho tha nhân. Thử hỏi, ở hải ngoại quá tự do và đầy đủ phương tiện, tôi đă làm được ǵ để danh Chúa được đón nhận và tôn thờ.

IMG_5064

Với nhóm anh chị em tân ṭng

 Đơn cử ra một vài thí dụ đáng suy gẫm như thế, tôi muốn nói lên ḷng khâm phục của ḿnh đối với anh chị em tôi ở quê nhà. Giữa những khó khăn hiện tại của giáo hội Mẹ Việt Nam, tôi tin với ơn Chúa anh chị em tôi cuối cùng sẽ chiến thắng trong cuộc bắt đạo và tử đạo của thế kỷ 21 này. Tạ ơn Chúa đă cho con cái Chúa hiểu rằng truyền giáo không chỉ là trách nhiệm của các bậc tu sĩ, nhưng trong cánh đồng truyền giáo ai cũng là thợ gặt của Chúa đáng chúc phúc như nhau. 

Riêng phần tôi, trở lại Cali cứ ngẫm nghĩ măi về những ǵ ḿnh đă trải nghiệm và gặt hái được qua chuyến hành hương về quê hương thân yêu. Nhờ tiếp xúc, được sống với, và chia sẻ cảm nghiệm với nhiều thành phần con cái Chúa, tôi cảm tạ Chúa đă cho tôi cơ hội kiểm điểm lại đời sống đức tin của chính ḿnh nơi hải ngoại./.

Nguyễn Hùng Cường

Lễ Thánh Anphongsô

2010